An ninh và an toàn qua năm chỉ số
Trình chiếu này lần lượt đi qua năm chỉ số của chủ đề an ninh và an toàn: giết người có chủ đích, tử vong do tai nạn giao thông, tử vong do tự tử, chi quân sự trên GDP và điểm kiểm soát tham nhũng. Mỗi khung dùng cùng một bộ dữ liệu của World Bank, hiển thị bảng xếp hạng các nước, giá trị cùng thứ hạng của Việt Nam và đường diễn biến theo năm. Các con số đều lấy nguyên từ dữ liệu nguồn, không tính toán lại.
| Intentional homicides | 70 | Việt Nam 1,535 vụ trên 100.000 dân, hạng 70 trong 196 quốc gia |
| Road traffic deaths | 169 | Tai nạn giao thông: Việt Nam 30,6 người trên 100.000 dân, hạng 169 trong 190 quốc gia |
| Suicide mortality rate | 92 | Tử vong do tự tử: Việt Nam 7,3 trên 100.000 dân, hạng 92 trong 185 quốc gia |
| Military spending (% of GDP) | 84 | Chi quân sự: Việt Nam 1,8065% GDP, hạng 84 trong 164 quốc gia |
| Control of corruption | 106 | Kiểm soát tham nhũng: Việt Nam 42,76 điểm, hạng 106 trong 206 quốc gia |
Hãy đọc từng khung một cách độc lập: đơn vị (vụ hoặc người trên 100.000 dân, % GDP, điểm 0–100), số quốc gia được xếp hạng và năm mới nhất đều khác nhau giữa các khung. Vì vậy không nên so sánh trực tiếp giá trị hay thứ hạng của khung này với khung khác, cũng không nên cộng gộp chúng thành một điểm số chung.
Ghi chú biên tập của lần chạy này viết cho ấn bản Nhật Bản, trong khi DATA có `focus_country: VNM`. Tôi bám theo DATA và viết cho bạn đọc Việt Nam.
---
TITLE: Việt Nam trong bức tranh an ninh và an toàn của thế giới
Những điểm chính
Trên chủ đề an ninh và an toàn, Việt Nam không nghiêng hẳn về một phía: tùy chỉ số mà vị trí thay đổi rất nhiều. Ở tội phạm giết người có chủ đích, Việt Nam ở mức 1,535 vụ trên 100.000 dân, hạng 70 trong 196 quốc gia, tức khoảng 30% giá trị thế giới 5,2 vụ. Ngược lại, tử vong do tai nạn giao thông đường bộ ở mức 30,6 người trên 100.000 dân (số liệu 2019), hạng 169 trong 190 quốc gia và gấp khoảng 1,8 lần giá trị thế giới 16,75 — đây là chỉ số Việt Nam đứng xa nhóm đầu nhất. Ba chỉ số còn lại nằm ở khoảng giữa: tử vong do tự tử 7,3 trên 100.000 dân (2021, hạng 92/185, thấp hơn mức thế giới 9,13), chi quân sự 1,8065% GDP (hạng 84/164, dưới mức thế giới 2,4692%) và điểm kiểm soát tham nhũng 42,76 trên thang 100 (hạng 106/206).
Nguồn: World Bank – World Development Indicators (Intentional homicides, Mortality caused by road traffic injury, Suicide mortality rate, Military expenditure % of GDP, Control of Corruption).
Giá trị mới nhất của chỉ số trung tâm
Chỉ số đứng đầu bảng của chủ đề là tỉ lệ giết người có chủ đích trên 100.000 dân, với năm mới nhất trong bộ dữ liệu là 2023 và 196 quốc gia được xếp hạng. Giá trị của Việt Nam là 1,535 vụ trên 100.000 dân, tương ứng hạng 70 trong 196 quốc gia. So với giá trị thế giới 5,2 vụ, mức của Việt Nam chỉ bằng khoảng 30%, tức thấp hơn trung bình toàn cầu khoảng ba lần rưỡi. Cần lưu ý rằng chuỗi số liệu theo năm của Việt Nam trong bộ dữ liệu này chỉ chạy từ 2001 đến 2011, nên giá trị 1,535 là điểm quan sát gần nhất hiện có của Việt Nam chứ không cùng năm với những nước có số liệu đến 2023.
Nguồn: World Bank – Intentional homicides (per 100,000 people), world_bank_wdi VC.IHR.PSRC.P5 (https://data.worldbank.org/indicator/VC.IHR.PSRC.P5).
Nhóm dẫn đầu và nhóm cuối bảng
Ở nhóm có tỉ lệ giết người thấp nhất là mã "CHI" với 0,0 (mã này chưa được giải mã thành tên quốc gia trong dữ liệu, nên không suy đoán), tiếp đến Qatar 0,0691, Singapore 0,0691, Oman 0,1386, Bahrain 0,1956 và Nhật Bản 0,2292. Xa hơn một chút trong nhóm đầu có Indonesia 0,3038 (hạng 9) và Hồng Kông 0,3762 (hạng 12) — hai cái tên gần Việt Nam về địa lý. Ở đầu bên kia của bảng là các đảo quốc Caribe và một số nước Mỹ Latinh, châu Phi: Quần đảo Turks và Caicos 76,34, St. Kitts và Nevis 64,16, St. Vincent và Grenadines 51,32, Quần đảo Virgin thuộc Hoa Kỳ 49,86, Jamaica 49,44, Ecuador 45,72 và Nam Phi 43,72. Nhìn tổng thể, nhóm đầu thường là các quốc gia vùng Vịnh, các đô thị – lãnh thổ nhỏ và một số nước Đông Á – Đông Nam Á; nhóm cuối tập trung ở vùng Caribe, Mỹ Latinh và nam châu Phi. Với 1,535 vụ, Việt Nam nằm ở nửa trên của bảng (hạng 70/196), gần nhóm đầu hơn nhóm cuối, nhưng cách khá xa các nước dẫn đầu khu vực như Singapore.
Nguồn: World Bank – Intentional homicides (per 100,000 people), world_bank_wdi VC.IHR.PSRC.P5.
Thay đổi trong mười năm qua
Chuỗi số liệu theo năm của Việt Nam cho thấy các chỉ số đi theo những hướng khác nhau. Tỉ lệ giết người tăng nhẹ trong giai đoạn có dữ liệu: từ 1,2877 (2001) xuống mức thấp nhất 1,2754 (2006) rồi lên 1,5276 (2010) và 1,535 (2011), tức cao hơn khoảng 19% so với đầu chuỗi. Tử vong do tai nạn giao thông là chỉ số thay đổi rõ nhất theo hướng xấu đi: 24,8 (2008), giữ quanh 25 trong nhiều năm, thấp nhất 24,7 (2014), sau đó tăng liên tục 26,7 (2016) – 27,8 (2017) – 29,2 (2018) – 30,6 (2019), tăng khoảng 24% chỉ trong năm năm cuối chuỗi. Tỉ lệ tự tử dao động trong biên độ hẹp: 7,03 (2010) lên đỉnh 7,64 (2015), giảm còn 6,83 (2020) rồi trở lại 7,3 (2021). Chi quân sự giảm từ 2,3048% GDP (2007) xuống mức thấp nhất 1,5565% (2011), sau đó nhích lên 1,9506% (2016) và 1,8065% (2018). Điểm kiểm soát tham nhũng đi lên chậm và không đều: 39,4152 (2013) → 41,5156 (2020) → 42,8757 (2022) → 41,6124 (2023) → 42,7601 (2024), cộng khoảng 3,3 điểm sau hơn một thập niên.
Nguồn: World Bank – World Development Indicators (VC.IHR.PSRC.P5, SH.STA.TRAF.P5, SH.STA.SUIC.P5, MS.MIL.XPND.GD.ZS, GOV_WGI_CC_SC).
So với các nước lân cận
Ở tỉ lệ giết người, Việt Nam 1,535 cao hơn Trung Quốc 0,5019 (hạng 15) khoảng ba lần, cao hơn Hàn Quốc 0,4773 (hạng 13) và Nhật Bản 0,2292 (hạng 6) lần lượt khoảng 3,2 và 6,7 lần, đồng thời cũng cao hơn Indonesia 0,3038 và Singapore 0,0691. So với phương Tây, mức của Việt Nam nhỉnh hơn Pháp 1,3351 và Vương quốc Anh 1,1187, nhưng chỉ bằng khoảng 27% của Mỹ 5,7634 (hạng 134). Khoảng cách lớn nhất nằm ở giao thông: Việt Nam 30,6 so với Trung Quốc 17,4 (gấp khoảng 1,8 lần), Hàn Quốc 8,6 (gấp 3,6 lần), Mỹ 12,7, Pháp 5,1, Đức 3,8, Nhật Bản 3,6 và Vương quốc Anh 3,2 (gấp khoảng 9,6 lần). Ở tự tử thì hướng ngược lại: Việt Nam 7,3 thấp hơn Trung Quốc 8,95, Vương quốc Anh 9,55, Đức 12,9, Mỹ 15,63, Pháp 16,58, Nhật Bản 17,43 và Hàn Quốc 27,53 (hạng 184/185, cao gần 3,8 lần Việt Nam). Chi quân sự của Việt Nam 1,8065% GDP cao hơn Trung Quốc 1,7113% và Nhật Bản 1,3714%, thấp hơn Đức 1,8919%, Pháp 2,0526%, Vương quốc Anh 2,2786%, Hàn Quốc 2,5621% và Mỹ 3,4192%; trong khu vực, Lào ở mức rất thấp 0,1899% (hạng 3). Về kiểm soát tham nhũng, 42,76 điểm của Việt Nam thấp hơn Trung Quốc 49,65 (hạng 89), Hàn Quốc 65,05, Nhật Bản 75,32, và cách xa Singapore 87,69 (hạng 5) cũng như Đan Mạch 94,16 (hạng 1).
Nguồn: World Bank – World Development Indicators (VC.IHR.PSRC.P5, SH.STA.TRAF.P5, SH.STA.SUIC.P5, MS.MIL.XPND.GD.ZS, GOV_WGI_CC_SC).
Cách đọc những con số này
Thứ hạng ở đây chỉ là kết quả sắp xếp cơ học theo giá trị từ nhỏ đến lớn (riêng kiểm soát tham nhũng sắp từ lớn đến nhỏ), không phải một đánh giá tốt – xấu. Với chi quân sự, "thấp hơn" không đồng nghĩa với "tốt hơn", nên hạng 84/164 của Việt Nam không nên đọc như một thành tích. Tỉ lệ giết người phụ thuộc vào định nghĩa thống kê tội phạm của từng nước (cách tính vụ chưa hoàn thành, các trường hợp mất tích hay không rõ nguyên nhân tử vong) và vào năng lực điều tra, ghi nhận; ở nơi hệ thống thống kê còn yếu, con số công bố có thể thấp hơn thực tế. Tỉ lệ tự tử cũng dễ bị ghi nhận thiếu do thủ tục xác định nguyên nhân tử vong và bối cảnh xã hội, tôn giáo — vì vậy các giá trị rất thấp ở nhóm đầu như Syria 0,59, Jordan 0,6 hay Ai Cập 0,63 không nên được hiểu ngay là "ở đó ít người tự tử". Điểm kiểm soát tham nhũng là thang tổng hợp 0–100 từ nhiều khảo sát, không phải một đại lượng đo trực tiếp, và bộ dữ liệu lần này không có giá trị thế giới cho chỉ số đó. Cuối cùng, tần suất cập nhật không giống nhau: năm mới nhất là 2023 với giết người, 2019 với tai nạn giao thông, 2021 với tự tử, 2024 với chi quân sự và kiểm soát tham nhũng — riêng chuỗi theo năm của Việt Nam dừng ở 2011 (giết người) và 2018 (chi quân sự). Do đó không nên gộp tất cả thành một kết luận chung về "mức độ an toàn hiện nay", và những thay đổi sau 2019 của giao thông chưa được phản ánh trong dữ liệu này.
Nguồn: World Bank – World Development Indicators (VC.IHR.PSRC.P5, SH.STA.TRAF.P5, SH.STA.SUIC.P5, MS.MIL.XPND.GD.ZS, GOV_WGI_CC_SC).
Tỷ lệ giết người có chủ ý trên bản đồ và biểu đồ
| Hạng | Quốc gia / vùng | trên 100.000 |
|---|---|---|
| 2 | Qatar | 0.07 |
| 3 | Singapore | 0.07 |
| 4 | Oman | 0.14 |
| 5 | Bahrain | 0.2 |
| 6 | Nhật Bản | 0.23 |
| 68 | Bắc Macedonia | 1.53 |
| 69 | Luxembourg | 1.53 |
| 70 | Việt Nam | 1.53 |
| 71 | Estonia | 1.54 |
| 72 | Israel | 1.63 |
| 194 | St. Vincent và Grenadines | 51.32 |
| 195 | St. Kitts và Nevis | 64.16 |
| 196 | Quần đảo Turks và Caicos | 76.34 |
Đầu bảng là mã CHI 0,0 cùng Qatar và Singapore 0,0691, Oman 0,1386, Bahrain 0,1956, Nhật Bản 0,2292; cuối bảng là Quần đảo Turks và Caicos 76,34, St. Kitts và Nevis 64,16, St. Vincent và Grenadines 51,32. Việt Nam nằm ở nửa trên với hạng 70.
Cột và bản đồ cho thấy khoảng cách giữa hai đầu bảng lên tới hàng trăm lần, phần lớn giá trị cao tập trung ở vùng Caribe và Mỹ Latinh. Đường diễn biến của Việt Nam đi lên nhẹ, từ 1,2877 năm 2001 lên 1,535 năm 2011.
So sánh các quốc gia
Tử vong do tai nạn giao thông đường bộ
| Hạng | Quốc gia / vùng | trên 100.000 |
|---|---|---|
| 1 | Antigua và Barbuda | 0 |
| 2 | Monaco | 0 |
| 3 | San Marino | 0 |
| 4 | Micronesia | 0.2 |
| 5 | Maldives | 1.6 |
| 167 | Mozambique | 30 |
| 168 | Cameroon | 30.2 |
| 169 | Việt Nam | 30.6 |
| 170 | Burkina Faso | 31 |
| 171 | Tanzania | 31.1 |
| 188 | Venezuela | 39 |
| 189 | Zimbabwe | 41.2 |
| 190 | Cộng hòa Dominica | 64.6 |
Đầu bảng gồm Antigua và Barbuda, Monaco, San Marino ở mức 0,0 rồi Micronesia 0,2, Maldives 1,6; cuối bảng là Cộng hòa Dominica 64,6, Zimbabwe 41,2, Venezuela 39,0. Việt Nam 30,6 nằm gần nhóm cuối, trên Eswatini 33,5 một bậc khoảng cách.
Đường diễn biến đi lên rõ rệt ở nửa sau chuỗi: 24,7 năm 2014 rồi 26,7 – 27,8 – 29,2 – 30,6 các năm 2016 đến 2019. Bản đồ và cột cho thấy khoảng cách với nhóm đầu rất lớn, khi Singapore chỉ ở 2,1.
Tỷ suất tử vong do tự tử
Đầu bảng có St. Vincent và Grenadines 0,41, Syria 0,59, Jordan 0,6, Ai Cập 0,63; cuối bảng là Lesotho 28,66, Hàn Quốc 27,53, Eswatini 27,23. Việt Nam đứng giữa, thấp hơn Trung Quốc 8,95 và Nhật Bản 17,43.
Đường diễn biến dao động hẹp: 7,03 năm 2010, đỉnh 7,64 năm 2015, xuống 6,83 năm 2020 rồi trở lại 7,3 năm 2021. Cột cho thấy hai đầu bảng cách nhau khoảng 70 lần, từ 0,41 đến 28,66.
Chi tiêu quân sự (% GDP)
| Hạng | Quốc gia / vùng | % |
|---|---|---|
| 1 | Haiti | 0.07 |
| 2 | Mauritius | 0.15 |
| 3 | Lào | 0.19 |
| 4 | Ireland | 0.24 |
| 5 | Papua New Guinea | 0.31 |
| 82 | Trung Quốc | 1.71 |
| 83 | Croatia | 1.79 |
| 84 | Việt Nam | 1.81 |
| 85 | Afghanistan | 1.83 |
| 86 | Montenegro | 1.83 |
| 162 | Israel | 8.78 |
| 163 | Eritrea | 20.87 |
| 164 | Ukraina | 34.48 |
Đầu bảng là các nước chi ít nhất: Haiti 0,0684, Mauritius 0,1496, Lào 0,1899; cuối bảng là Ukraina 34,4815, Eritrea 20,8657, Israel 8,7767. Việt Nam nằm giữa bảng, trên Trung Quốc 1,7113 và Nhật Bản 1,3714.
Đường diễn biến giảm mạnh từ 2,3048% năm 2007 xuống 1,5565% năm 2011, sau đó nhích lên 1,9506% năm 2016 và 1,8065% năm 2018. Cột bị kéo dài bởi vài nước đang có xung đột, nên phần lớn quốc gia dồn ở khoảng dưới 3%.
Kiểm soát tham nhũng (chỉ số quản trị)
Đầu bảng gồm Đan Mạch 94,1568, Phần Lan 92,226, Luxembourg 88,6569, Singapore 87,6926; cuối bảng là Nam Sudan 6,0617, Somalia 11,7011, Syria 13,4113. Việt Nam ở khoảng giữa, dưới Trung Quốc 49,6499 và Hàn Quốc 65,0512.
Đường diễn biến đi lên chậm và không đều: 39,4152 năm 2013, 42,8757 năm 2022, 41,6124 năm 2023 rồi 42,7601 năm 2024. Cột cho thấy nhóm đầu và nhóm cuối cách nhau hơn 88 điểm trên thang 100.